Tiếng Kêu Sa Mạc
Hơn bốn năm tôi sinh hoạt với người Thổ dân tại sa mạc Úc Châu. Một thời gian vừa đủ để cảm nghiệm đời sống đá sỏi.
Trời tháng 12 Úc Châu mùa hè. Sa mạc thông thường nổi
bật với mầu vàng cỏ khô trải dài mênh mông kéo dài tới cuối đường chân trời. Mặt
trời than hồng thản nhiên ném xuống hoang mạc lửa trời tô thêm đậm mầu đất đỏ.
Xác Kangaru nằm chết dọc theo hai bên đường. Quạ đen và kên kên vui mừng nhảy
quanh xác. Ruồi sa mạc nổi tiếng lì lợm đi vào mắt chui vào mũi người. Đường sa
mạc dẫn vào thôn làng thổ dân quanh co nhấp nhô đá sỏi, không một bóng người.
Tôi vẫn thế, vẫn cẩn thận từng vòng bánh xe lăn tới trên đường đất đỏ. Mắt mở
to, chăm chú nhìn hai bên đường và phía trước.
Vào những giây phút đó, tôi hay nghĩ tới ngôn sứ sa mạc
Tiền Hô mặc áo lạc đà, ăn châu chấu mật ong. Có những lần tôi dừng xe lại. Tôi
thả bộ đi sâu vào sa mạc, lắng nghe tiếng gọi của vị ngôn sứ,
Có tiếng người hô trong hoang địa:
sửa lối cho thẳng để Người đi (Mark 1:3).
Không Tử quan niệm “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Người Do Thái và tín hữu Kitô tin rằng con người từ Thiên Chúa mà ra, được hình thành trong hình ảnh của Đấng Tối Cao. Con người do đó mang bổn tính thiện.
Nhưng không biết từ giây phút nào đó, bóng đen vẩn đục
đôi mắt ngây thơ thiên đàng. Thế là tâm hồn nhân gian quanh co, đá sỏi nhấp
nhô, cỏ chết úa vàng kéo dài một cõi mênh mông, hai bên đường xác thú nằm chết
phơi bụng chương sình. Giải thích cho hiện tượng bóng đen vẩn đục, tác giả Sáng
Thế Ký giải thích tại hai người nguyên tổ ăn trái cấm. Người Việt Nam tin rằng
tại môi trường sống, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Tôi chọn sống với đời sống
ống cống, người tôi dài ra, thân xác tôi vương mùi bùn.
Trong lớp Kinh Thánh, nhiều lần giáo dân đặt vấn đề với tôi tại sao Chúa biết con người yếu đuối, mà Ngài lại trồng cây trái cấm nằm ở giữa vườn. Để rồi con rắn tinh khôn xuất hiện quyến rũ. Bà nghe theo lời rắn, giơ tay hái. Bà và ông cùng ăn. Khi Thiên Chúa xuất hiện, Ngài hỏi, “Ủa, con đâu rồi?” Ông quanh co chỉ bà, bà nhìn ngó quanh quẩn chỉ rắn.
Tâm hồn trần gian cong queo, nhấp nhô. Ngôn sứ Tiền Hô xuất hiện. Người người kéo tới hoang mạc, nhờ ngài sửa lại.
Mùa Vọng, tôi thấy mình thường xuyên bận rộn với những
sinh hoạt của một vị mục tử. Chương trình giảng phòng Mùa Vọng. Ngồi tòa. Lo
toan hang đá nhà thờ. Chương trình mùa Vọng và thánh lễ Canh thức Nửa Đêm. Tiệc
Giáng Sinh với giáo dân và với những Linh mục Tu sĩ. Cứ thế! Những tối mùa Vọng,
về tới phòng, tôi mệt nhoài, đầu nhức căng căng. Cứ thế! Tôi bận rộn suốt cả một
mùa Vọng bốn tuần cho thiên hạ bốn phương cho tới chiều tối ngày 25/12. Tới giờ
phút đó, giây phút linh thiêng nhiệm mầu đã bốc hơi cạn khô!
Có người thắc mắc, nửa đùa nửa thật,
— Cha là linh mục. Chắc không cần phải đi xưng tội…
Tôi nhìn. Đôi khi nhíu mày, lượng định tình hình, tôi cười,
rồi nói,
— Tôi, linh mục, cũng là người, tầm thường hơn một người
tầm thường. Tôi xưng tội, cũng xót xa tâm hồn khi xét mình, cũng hân hoan rộn
ràng sau những giây phút được Trời cao qua bàn tay của linh mục tha những lỗi lầm.
Thiên hạ nhìn tôi,
— Cha không giỡn đấy chứ?
Tôi nghiêm trang, lắc đầu
— Các linh mục khác họ thánh thiện. Nhưng riêng tôi,
tâm hồn khúc khuỷu, nhấp nhô đá sỏi.
Rồi tôi kết luận,
— Những lúc biết tâm hồn hố sâu, tôi chọn vô sa mạc gặp
ngôn sứ sa mạc.
Với những người thắc mắc hỏi tại sao Chúa lại trồng
cây trái cấm giữa vườn. Tôi nói, con người luôn luôn có chọn lựa. Ăn hoặc không
ăn. Vấn đề không phải là bởi Chúa, nhưng bởi cá nhân, cá nhân của bà, của ông.
Tôi, linh mục chọn lựa cái chọn lựa nghèo hàn, hồn linh mục trở nên nghèo hàn.
Tâm tôi trở nên vũng lầy. Lỗi này không phải bởi Chúa.
Sống trong sa mạc mùa Vọng, tôi mang giáo dân sa mạc
vô thêm sâu vào sa mạc vừa nghĩa đen lẫn nghĩa bóng để riêng tâm hồn của mình
và của giáo dân đẫm thấm giây phút Mùa Vọng. Sáng, chúng tôi lái xe tung bụi mờ
sa mạc. Tới giờ chia sẻ, tôi nói về tiếng gọi sửa đường nhấp nhô của ngôn sứ.
Tôi mời gọi giáo dân đi sâu vào sa mạc, đi một mình, tĩnh lặng lắng nghe tiếng
sa mạc. Tôi đề nghi giờ ăn trưa trong thinh lặng, không ai nói gì, nhưng lắng
nghe tiếng gió sa mạc thì thầm vọng lại lời mời gọi của hai ngàn năm trước, âm
thanh vang vọng của sa mạc Judea giờ vẫn còn vọng vang nơi sa mạc Úc Châu.
Tôi chia sẻ với giáo dân sa mạc, sống trong sa mạc,
chúng ta không có nhiều thương xá để mà bận rộn với những bận rộn thương xá của
đời sống đô thị. Riêng tôi, tu sĩ sa mạc chậm lại một bước chân, lắng nghe tiếng
gọi của ngôn sứ sa mạc.
Mùa Vọng vẫn thế, vẫn là mùa của tiếng gọi ngôn sứ sa
mạc, “Hãy dọn đường!”
Comments
Post a Comment